FIDR: Bản tin số 27 (Tháng 7 – 9/2017)

FIDR – Bản tin số 27

Advertisements

Cuộc họp Mạng lưới SRI Việt Nam tháng 8-2017

Ngày 8/8/2017 tại văn phòng tổ chức SNV, mạng lưới SRI Việt Nam tổ chức họp các thành viên của mạng lưới. Tham dự cuộc họp lần này có khoảng hơn 20 thành viên là đại diện cho các đơn vị, tổ chức và cá nhân đã tham gia mạng lưới. Nội dung cuộc họp lần này nhằm thảo luận việc biên tập bộ tài liệu truyền thông cho mạng lưới, SRI và bầu ban điều phối mới cho mạng lưới.

Cuộc họp thống nhất bầu ra ban điều phối mới cho mạng lưới SRI Việt Nam gồm:

STT Họ và tên Đơn vị Chức vụ
1 Ông Hoàng Văn Phụ ICC Trưởng ban
2 Ông Bùi Văn Minh SNV Phó trưởng ban
3 Bà MAEDA KEIKO FIDR Ủy viên
4 Ông Ngô Tiến Dũng Ủy viên
5 Bà Lê Nguyệt Minh Oxfam Ủy viên
6 Ông Nguyễn Trọng Hưng ICC Thư ký

Sau đây là một số hình ảnh về cuộc họp mạng lưới:

Mạng lưới SRI Việt Nam

Hệ thống canh tác lúa cải tiến (System of Rice Intenfisication – SRI) đã được nghiên cứu, triển khai thành công ở 40 nước trên thế giới. SRI được coi là một phương pháp tiếp cận theo hướng nông nghiệp sinh thái. SRI có nhiều ưu thế vượt trội so với phương pháp canh tác thông thường như: lượng thóc giống giảm từ 50 đến 90%, phân đạm giảm 20 đến 25%, tăng năng suất bình quân 13 đến 29%. SRI tiết kiệm 40 % nước tưới, 30 % phân bón hóa học, tăng khả năng chống chịu của cây lúa liên quan đến biến đổi khí hậu như chống đổ ngã, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, do đó đã hạn chế dụng thuốc BVTV. Việc rút cạn nước ruộng góp phần làm hạn chế khí nhà kính phát thải gây hiệu ứng nhà kính. Như vậy SRI đảm bảo được cả 4 lợi ích: kinh tế, xã hội, môi trường và biến đổi khí hậu.

Ở Việt Nam, SRI đã được Cục bảo vệ thực vật và Đại học Thái nguyên triển khai từ năm 2003 tại các tỉnh phía Bắc. Cho đến nay có khoảng 1,8 triệu hộ với 394,894 ha làm SRI, có 23 tỉnh, SRI đang có triển vọng rất tốt tại Việt Nam. (Cục BVTV, 2014). Bộ NN&PTNT đã công nhận SRI là Tiến bộ kỹ thuật áp dụng trong sản xuất lúa ở các tỉnh phía Bắc (15/10/2007), và trao Giải thưởng Bông lúa vàng Việt Nam năm 2012.

Hiện nay, SRI đã được rất nhiều tổ chức nghiên cứu và chuyển giao như Cục bảo vệ thực vật, Đại học Thái Nguyên, tổ chức Oxfam, tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV), Trung tâm phát triển nông thôn bền vững – SRD, tổ chức Cứu trợ và Phát triển Quốc tế (FIDR), Viện môi trường nông nghiệp (IAE), Viện cây lương thực và thực phẩm (FCRI), Sở NN&PTNT Quảng Nam và các chi cục Bảo vệ thực vật các tỉnh ​Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Kạn, Hà Nội, Yên Bái, Nghệ An , Hà Tĩnh.

Các tổ chức này đã triển khai SRI tại nhiều nơi, có nhiều kinh nghiệm tiếp cận phong phú và đa dạng. Các nghiên cứu chuyên sâu về lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường và sự phù hợp của SRI đối với điều kiện sinh thái, xã hội và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã được thực hiện. Những kinh nghiệm này hết sức quý báu nhưng ít có điều kiện chia sẻ và phổ biến rộng rãi.

Nhằm chia sẻ thông tin kịp thời, phối hợp với nhau trong nghiên cứu, triển khai và nâng cao tiếng nói trong việc đề xuất các chính sách với các cơ quan quản lý Nhà nước thì việc thành lập Mạng lưới SRI Việt Nam (Vietnamese SRI Network (VSN) cần thiết.

Mục tiêu thành lập mạng lưới SRI Việt Nam

Tập hợp kết nối các tổ chức, nhà khoa học, người hoạt động thực tiễn, nhà lập chính sách, cán bộ khuyến nông, nông dân, sinh viên và những ai quan tâm đến việc phát triển và nhân rộng SRI phục vụ cho việc phát triển nông nghiệp, nông thôn, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Phối hợp thực hiện triển khai nghiên cứu, phổ triển SRI ra diện rộng, tham gia đề xuất kêu gọi tài trợ và phát triển chính sách mở rộng SRI.

Mạng lưới sẽ là cầu nối chia sẻ thông tin, nguồn lực giữa các tổ chức, cá nhân cùng quan tâm đến mở rộng SRI ở Việt Nam và thế giới.

Đối tượng tham gia mạng lưới

Tất cả các đơn vị, tổ chức, cá nhân quan tâm đến SRI ở Việt Nam, tham gia mạng lưới trên cơ sở tự nguyện theo các nguyên tắc của mạng lưới đề ra.

Kế hoạch thực hiện

Mạng lưới sẽ ra dự kiến ra mắt vào 8/2015, kèm theo là có báo cáo tổng quát về các hoạt động của các đơn vị/tổ chức triển khai SRI tại Việt Nam trong những năm qua.

ICC-TNU

GÓC VĂN NGHỆ VỀ SRI

HÃY LÀM SRI

SRI làm đi bạn hỡi

Kỹ thuật thâm canh mới đây rồi

Mỗi sào nửa ký giống

Cấy thưa năng suất nhà tôi đã làm

Rồi bạn sẽ thấy ham mãi

Bởi SRI bao cái được rồi

Thóc, phân, lân, đạm ít thôi

Môi trường sinh thái cái tôi được nhiều

Cho cuộc sống đáng yêu hơn cả

Cho cộng đồng làng xã đẹp sao

Hiệu quả kinh tế tăng cao

Toàn dân đoàn kết biết bao ân tình

Làm SRI ta mình chung sức

Cải thiện môi trường tri thức mới là đây

Bảo vệ chim, thú, cỏ cây

Không bị ô nhiễm chẳng thấy bệnh tình

Cho sức khỏe chúng mình bền dẻo

Càng hăng say xây đẹp cho đời

SRI thật tuyệt vời

Xuân Phương ơi mãi rạng ngời tương lai.

(Nguyễn Khắc Hà, Xóm Đoàn Kết, Xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên)

ICC-TNU

Thí điểm Tài liệu hướng dẫn Lớp học đồng ruộng (FFS) tại Yên Bái

Chi cục BVTV (PPSD) tỉnh Yên Bái đã chỉ đạo Tạm BVTV huyện Lục Yên thí điểm áp dụng Tài liệu hướng dẫn lớp học đồng ruộng do Cục BVTV (PPD) dự thảo tại xã Liễu Đô. Tài liệu gồm hai phần là Hướng dẫn kỹ thuật và Hướng dẫn tổ chức lớp học.  Trung tâm Phát triển cộng đồng Việt Hưng (CCDV) tham gia phối hợp hoàn chỉnh nội dung về năng lục và kỹ năng tổ chức lớp học.

Chị Hoàng Thị Tờ, trạm trưởng và anh Phạm Xuân Thuận, cán bộ TOT SRI của Trạm BVTV Lục Yên cho biết FFS có 17 buổi học, mỗi tuần có 1 buổi học vào thứ 7. Hiện nay đã áp dụng tài liệu này vào14 trên tổng số  17 buổi học của lớp FFS. Anh Thuận cho biết tài liệu hướng dẫn chi tiết, có nhiều nội dung mới như cách phòng trừ sâu bệnh mới, giải thích rõ hơn những nguyên tắc của SRI. Tuy nhiên qua thí điểm cho thấy nên có thêm phần đáp án cho các câu hỏi vì mỗi lớp có thể sẽ giải thích khác nhau nếu thiếu đáp án chung, hoặc một số thuật ngữ chuyên ngành nên được chuyển đổi cho dễ hiểu đối với nông dân; Phần hướng dẫn về tổ chức lớp học còn đơn giản. Nếu không phải là cán bộ đã được tập huấn 3 tháng về TOT SRI ở Thái Bình năm 2008 thì khó sử dụng tài liệu này.

Tại buổi học thứ 14 ở Hội trường xã Liễu Đô, mặc dù trời mưa nhưng 25 học viên – đều là nữ nông dân – đã đến lớp đúng 7.30 sáng. Giảng viên Phạm Xuân Thuận đã nêu các câu hỏi theo nội dung hướng dẫn cho 5 nhóm thảo luận; các học viên đã trao đổi rât sôi nổi, và đưa ra nhiều ý kiến hay. Ví vụ như khi lá lúa thắt cuống thì biết là cây lúa bắt đầu đón đòng, cần giữ nước cho ruộng; hay khi bông lúa khô thì biết có sâu đục thân cần bỏ đi ngay… Sau khi các nhóm trình bày, giảng viên tổng hợp lại để học viên ghi chép. Các học viên cho biết đây là lần đầu tiên học về SRI, ruộng thí điểm SRI cho kết quả tốt, tuy nhiên do mấy hôm mưa mưa khi lúa đang trỗ bông nên có thể năng suất sẽ không cao. Cách tập huấn này giúp chi em vừa thảo luận, vừa thực hành nên rất thích và dễ nhớ. Giờ giải lao mọi người tham gia văn nghệ sôi nổi. Cán bộ của CCDV tặng lớp học một số sách và tờ rơi của chương trình FLAIR và cũng tham gia 2 tiết mục văn nghệ (chỉ thuộc được nửa bài).

Trước khi ra về, CCDV đã trao đổi thêm với giảng viên về cách tổ chức buổi học như thông báo về nội dung buổi học từ đầu giờ để học viên nắm được, người trình bày nên giới thiệu tên và nhóm trước khi báo cáo, có một số trò chơi đơn giản.

Mọi người hẹn gặp lại nhau trong Hội thảo đầu bờ vào cuối khóa tập huấn.

(nguồn: CCDV)

 

Thí điểm áp dụng Phần mềm kế toán của dự án SRI/FLAIR

Để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính dự án cho các đối tác, Oxfam đã giới thiệu phần mềm kế toán giúp các đối tác quản lý và xây dựng báo cáo tài chính nhanh hơn và chính xác hơn.

Tuy nhiên khi về địa phương, kế toán của các đơn vị vẫn chưa áp dụng được phần mềm này; nhiều nơi vẫn phải theo dõi và làm báo cáo tài chính theo kiểu đơn giản là tổng hợp trên Excel rồi ghi tay sang Mẫu báo cáo tài chính của dự án. Lý do chính ở đây là kế toán và điều phối viên dự án các đơn vị chưa nắm vững một số công thức tính toàn trên Excel để vận dụng khi ghi chép kế toàn từng tháng, trong khi đó trên máy tính hướng dẫn áp dụng các công thức này đều bằng tiếng Anh. Tại một số đơn vị, khi kế toán cũ nghỉ hưu (như cô Ngoan ở Chi cục BVTV Yên Bái) đã không bàn giao lại cách tính toán cho kế toàn mới. Do vậy việc làm Báo có tài chính thường bị kéo dài và thiếu chính xác.

Tháng 5-2012,  cán bộ của Trung tâm Phát triển Cộng đồng Việt Hưng (CCDV) đã chỉnh lý và chạy thử lại phần mềm kế toán này như sau:

–         Rà soát lại liên kết giữa bảng Báo cáo tài chính với bảng thống kê tài chính hàng tháng.

–         Chỉnh lại các bảng biểu cho  khớp nhau.

–         Chỉnh lại công thức tính, và công thức liên kết giữa các bảng

–         Tính  thử (theo ví dụ về thống kê tài chính 7 theo như tập huấn, và thêm tháng 8, tính cho cả bảng theo VND, USD và tổng hợp)

–         Kết quả cho thấy  các số liệu chi tiêu khớp nhau, các số liệu tài chính hàng tháng được tổng hợp chuyển sang bảng Báo cáo tài chính.

–         Có thể sử dụng trên các bản Excel.

Ngày 25-5-2012, CCDV cùng anh Hiện – cán bộ điều phối dự án và cố Nga – kế toán mới của Chi cục BVTV (PPSD) Yên Bái cho chạy thử phần mềm này trên máy tính của Chi cục, và áp dụng ngày cho Báo cáo tài chính giữ kỳ. Kết quả cho thấy cách làm này vừa đơn giản, vừa nhanh và chính xác. Chi cục BVTV Yên Bái sẽ áp dụng phần mềm này vào làm Báo cáo tài chính cuối kỳ (từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2012). Trong tháng 6-2012, PPSD Yên Bái sẽ mở rộng phần mềm này cho các tháng và trao đổi với CCDV trước khi áp dụng chính thức.

(nguồn: CCDV)