FIDR: Bản tin số 26 tháng 3 năm 2017

00010002

Advertisements

Mạng lưới SRI Việt Nam

Hệ thống canh tác lúa cải tiến (System of Rice Intenfisication – SRI) đã được nghiên cứu, triển khai thành công ở 40 nước trên thế giới. SRI được coi là một phương pháp tiếp cận theo hướng nông nghiệp sinh thái. SRI có nhiều ưu thế vượt trội so với phương pháp canh tác thông thường như: lượng thóc giống giảm từ 50 đến 90%, phân đạm giảm 20 đến 25%, tăng năng suất bình quân 13 đến 29%. SRI tiết kiệm 40 % nước tưới, 30 % phân bón hóa học, tăng khả năng chống chịu của cây lúa liên quan đến biến đổi khí hậu như chống đổ ngã, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, do đó đã hạn chế dụng thuốc BVTV. Việc rút cạn nước ruộng góp phần làm hạn chế khí nhà kính phát thải gây hiệu ứng nhà kính. Như vậy SRI đảm bảo được cả 4 lợi ích: kinh tế, xã hội, môi trường và biến đổi khí hậu.

Ở Việt Nam, SRI đã được Cục bảo vệ thực vật và Đại học Thái nguyên triển khai từ năm 2003 tại các tỉnh phía Bắc. Cho đến nay có khoảng 1,8 triệu hộ với 394,894 ha làm SRI, có 23 tỉnh, SRI đang có triển vọng rất tốt tại Việt Nam. (Cục BVTV, 2014). Bộ NN&PTNT đã công nhận SRI là Tiến bộ kỹ thuật áp dụng trong sản xuất lúa ở các tỉnh phía Bắc (15/10/2007), và trao Giải thưởng Bông lúa vàng Việt Nam năm 2012.

Hiện nay, SRI đã được rất nhiều tổ chức nghiên cứu và chuyển giao như Cục bảo vệ thực vật, Đại học Thái Nguyên, tổ chức Oxfam, tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV), Trung tâm phát triển nông thôn bền vững – SRD, tổ chức Cứu trợ và Phát triển Quốc tế (FIDR), Viện môi trường nông nghiệp (IAE), Viện cây lương thực và thực phẩm (FCRI), Sở NN&PTNT Quảng Nam và các chi cục Bảo vệ thực vật các tỉnh ​Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Kạn, Hà Nội, Yên Bái, Nghệ An , Hà Tĩnh.

Các tổ chức này đã triển khai SRI tại nhiều nơi, có nhiều kinh nghiệm tiếp cận phong phú và đa dạng. Các nghiên cứu chuyên sâu về lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường và sự phù hợp của SRI đối với điều kiện sinh thái, xã hội và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã được thực hiện. Những kinh nghiệm này hết sức quý báu nhưng ít có điều kiện chia sẻ và phổ biến rộng rãi.

Nhằm chia sẻ thông tin kịp thời, phối hợp với nhau trong nghiên cứu, triển khai và nâng cao tiếng nói trong việc đề xuất các chính sách với các cơ quan quản lý Nhà nước thì việc thành lập Mạng lưới SRI Việt Nam (Vietnamese SRI Network (VSN) cần thiết.

Mục tiêu thành lập mạng lưới SRI Việt Nam

Tập hợp kết nối các tổ chức, nhà khoa học, người hoạt động thực tiễn, nhà lập chính sách, cán bộ khuyến nông, nông dân, sinh viên và những ai quan tâm đến việc phát triển và nhân rộng SRI phục vụ cho việc phát triển nông nghiệp, nông thôn, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Phối hợp thực hiện triển khai nghiên cứu, phổ triển SRI ra diện rộng, tham gia đề xuất kêu gọi tài trợ và phát triển chính sách mở rộng SRI.

Mạng lưới sẽ là cầu nối chia sẻ thông tin, nguồn lực giữa các tổ chức, cá nhân cùng quan tâm đến mở rộng SRI ở Việt Nam và thế giới.

Đối tượng tham gia mạng lưới

Tất cả các đơn vị, tổ chức, cá nhân quan tâm đến SRI ở Việt Nam, tham gia mạng lưới trên cơ sở tự nguyện theo các nguyên tắc của mạng lưới đề ra.

Kế hoạch thực hiện

Mạng lưới sẽ ra dự kiến ra mắt vào 8/2015, kèm theo là có báo cáo tổng quát về các hoạt động của các đơn vị/tổ chức triển khai SRI tại Việt Nam trong những năm qua.

ICC-TNU

GÓC VĂN NGHỆ VỀ SRI

HÃY LÀM SRI

SRI làm đi bạn hỡi

Kỹ thuật thâm canh mới đây rồi

Mỗi sào nửa ký giống

Cấy thưa năng suất nhà tôi đã làm

Rồi bạn sẽ thấy ham mãi

Bởi SRI bao cái được rồi

Thóc, phân, lân, đạm ít thôi

Môi trường sinh thái cái tôi được nhiều

Cho cuộc sống đáng yêu hơn cả

Cho cộng đồng làng xã đẹp sao

Hiệu quả kinh tế tăng cao

Toàn dân đoàn kết biết bao ân tình

Làm SRI ta mình chung sức

Cải thiện môi trường tri thức mới là đây

Bảo vệ chim, thú, cỏ cây

Không bị ô nhiễm chẳng thấy bệnh tình

Cho sức khỏe chúng mình bền dẻo

Càng hăng say xây đẹp cho đời

SRI thật tuyệt vời

Xuân Phương ơi mãi rạng ngời tương lai.

(Nguyễn Khắc Hà, Xóm Đoàn Kết, Xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên)

ICC-TNU

Thí điểm Tài liệu hướng dẫn Lớp học đồng ruộng (FFS) tại Yên Bái

Chi cục BVTV (PPSD) tỉnh Yên Bái đã chỉ đạo Tạm BVTV huyện Lục Yên thí điểm áp dụng Tài liệu hướng dẫn lớp học đồng ruộng do Cục BVTV (PPD) dự thảo tại xã Liễu Đô. Tài liệu gồm hai phần là Hướng dẫn kỹ thuật và Hướng dẫn tổ chức lớp học.  Trung tâm Phát triển cộng đồng Việt Hưng (CCDV) tham gia phối hợp hoàn chỉnh nội dung về năng lục và kỹ năng tổ chức lớp học.

Chị Hoàng Thị Tờ, trạm trưởng và anh Phạm Xuân Thuận, cán bộ TOT SRI của Trạm BVTV Lục Yên cho biết FFS có 17 buổi học, mỗi tuần có 1 buổi học vào thứ 7. Hiện nay đã áp dụng tài liệu này vào14 trên tổng số  17 buổi học của lớp FFS. Anh Thuận cho biết tài liệu hướng dẫn chi tiết, có nhiều nội dung mới như cách phòng trừ sâu bệnh mới, giải thích rõ hơn những nguyên tắc của SRI. Tuy nhiên qua thí điểm cho thấy nên có thêm phần đáp án cho các câu hỏi vì mỗi lớp có thể sẽ giải thích khác nhau nếu thiếu đáp án chung, hoặc một số thuật ngữ chuyên ngành nên được chuyển đổi cho dễ hiểu đối với nông dân; Phần hướng dẫn về tổ chức lớp học còn đơn giản. Nếu không phải là cán bộ đã được tập huấn 3 tháng về TOT SRI ở Thái Bình năm 2008 thì khó sử dụng tài liệu này.

Tại buổi học thứ 14 ở Hội trường xã Liễu Đô, mặc dù trời mưa nhưng 25 học viên – đều là nữ nông dân – đã đến lớp đúng 7.30 sáng. Giảng viên Phạm Xuân Thuận đã nêu các câu hỏi theo nội dung hướng dẫn cho 5 nhóm thảo luận; các học viên đã trao đổi rât sôi nổi, và đưa ra nhiều ý kiến hay. Ví vụ như khi lá lúa thắt cuống thì biết là cây lúa bắt đầu đón đòng, cần giữ nước cho ruộng; hay khi bông lúa khô thì biết có sâu đục thân cần bỏ đi ngay… Sau khi các nhóm trình bày, giảng viên tổng hợp lại để học viên ghi chép. Các học viên cho biết đây là lần đầu tiên học về SRI, ruộng thí điểm SRI cho kết quả tốt, tuy nhiên do mấy hôm mưa mưa khi lúa đang trỗ bông nên có thể năng suất sẽ không cao. Cách tập huấn này giúp chi em vừa thảo luận, vừa thực hành nên rất thích và dễ nhớ. Giờ giải lao mọi người tham gia văn nghệ sôi nổi. Cán bộ của CCDV tặng lớp học một số sách và tờ rơi của chương trình FLAIR và cũng tham gia 2 tiết mục văn nghệ (chỉ thuộc được nửa bài).

Trước khi ra về, CCDV đã trao đổi thêm với giảng viên về cách tổ chức buổi học như thông báo về nội dung buổi học từ đầu giờ để học viên nắm được, người trình bày nên giới thiệu tên và nhóm trước khi báo cáo, có một số trò chơi đơn giản.

Mọi người hẹn gặp lại nhau trong Hội thảo đầu bờ vào cuối khóa tập huấn.

(nguồn: CCDV)

 

Thí điểm áp dụng Phần mềm kế toán của dự án SRI/FLAIR

Để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính dự án cho các đối tác, Oxfam đã giới thiệu phần mềm kế toán giúp các đối tác quản lý và xây dựng báo cáo tài chính nhanh hơn và chính xác hơn.

Tuy nhiên khi về địa phương, kế toán của các đơn vị vẫn chưa áp dụng được phần mềm này; nhiều nơi vẫn phải theo dõi và làm báo cáo tài chính theo kiểu đơn giản là tổng hợp trên Excel rồi ghi tay sang Mẫu báo cáo tài chính của dự án. Lý do chính ở đây là kế toán và điều phối viên dự án các đơn vị chưa nắm vững một số công thức tính toàn trên Excel để vận dụng khi ghi chép kế toàn từng tháng, trong khi đó trên máy tính hướng dẫn áp dụng các công thức này đều bằng tiếng Anh. Tại một số đơn vị, khi kế toán cũ nghỉ hưu (như cô Ngoan ở Chi cục BVTV Yên Bái) đã không bàn giao lại cách tính toán cho kế toàn mới. Do vậy việc làm Báo có tài chính thường bị kéo dài và thiếu chính xác.

Tháng 5-2012,  cán bộ của Trung tâm Phát triển Cộng đồng Việt Hưng (CCDV) đã chỉnh lý và chạy thử lại phần mềm kế toán này như sau:

–         Rà soát lại liên kết giữa bảng Báo cáo tài chính với bảng thống kê tài chính hàng tháng.

–         Chỉnh lại các bảng biểu cho  khớp nhau.

–         Chỉnh lại công thức tính, và công thức liên kết giữa các bảng

–         Tính  thử (theo ví dụ về thống kê tài chính 7 theo như tập huấn, và thêm tháng 8, tính cho cả bảng theo VND, USD và tổng hợp)

–         Kết quả cho thấy  các số liệu chi tiêu khớp nhau, các số liệu tài chính hàng tháng được tổng hợp chuyển sang bảng Báo cáo tài chính.

–         Có thể sử dụng trên các bản Excel.

Ngày 25-5-2012, CCDV cùng anh Hiện – cán bộ điều phối dự án và cố Nga – kế toán mới của Chi cục BVTV (PPSD) Yên Bái cho chạy thử phần mềm này trên máy tính của Chi cục, và áp dụng ngày cho Báo cáo tài chính giữ kỳ. Kết quả cho thấy cách làm này vừa đơn giản, vừa nhanh và chính xác. Chi cục BVTV Yên Bái sẽ áp dụng phần mềm này vào làm Báo cáo tài chính cuối kỳ (từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2012). Trong tháng 6-2012, PPSD Yên Bái sẽ mở rộng phần mềm này cho các tháng và trao đổi với CCDV trước khi áp dụng chính thức.

(nguồn: CCDV)

Hội nghị đánh giá kết quả mô hình xã điểm thực hiện canh tác lúa cải tiến và ứng dụng sáng tạo trong sản xuất nông nghiệp

Ngày 24/05/2012 Trung tâm phát triển cộng đồng Việt Hưng đã tham gia Hội nghị Đánh giá kết quả mô hình xã điểm thực hiện canh tác lúa cải tiến và ứng dụng sáng tạo trong nông nghiệp, do Chi cục BVTV Thái Nguyên tổ chức tại xã Đồng Tiến huyện Phổ Yên Tỉnh Phú Thọ. Tham gia hội nghị lần này có đại diện của Cục Bảo vệ thực vật, Tổ chức Oxfam, UBND huyện Phổ Yên, trạm khuyến nông huyện Phổ Yên, UBND, Hội nông dân, Hội phụ nữ xã Đồng tiến và 25 hộ nông dân tham gia mô hình.

Các đại biểu đã ra đồng tham quan mô hình cánh đồng SRI mở rộng và trao đổi đánh giá kết quả đối thực hiện canh tác lúa cải tiến (SRI). Bà con nông dân vùng dự án đều cho rằng mô hình canh tác SRI có thể áp dụng ở nhiều loại điều kiện (ruộng khô, ruộng trũng), áp dụng ở tất cả các giống lúa (lúa thuần, lúa lai) và quan trọng nhất là mang lại những hiệu quả thực sự rõ rệt. Canh tác theo các nguyên tắc của SRI giúp giảm 40% về giống, phân đạm giảm 10%, và quan trọng là giảm 50% về lượng thuốc BVTV cũng như số lần phun thuốc.

Cô Lê Thị Mơ – Chi hội trưởng hội phụ nữ xóm Vườn Rẫy xã Đồng Tiến cho biết cô là một trong những thành viên tiên phong đi đầu trong việc chuyển đổi thâm canh theo phương pháp mới (SRI) và đã thu được những hiệu quả thực sự. Cách đây 3 năm khi còn chưa có dự án, thâm canh theo phương pháp cũ, mỗi vụ cô sử dụng 3-4kg lúa giống/sào, chi phí cho phân bón hóa học khoảng 200 nghìn đồng/sào, và cô vẫn thường xuyên phải sử dụng các loại thuốc BVTV, năng suất lúa lúc đó đạt 1.5-1.8 tạ/sào. Tuy nhiên từ hồi chuyển đổi thâm canh theo phương pháp mới cô chỉ sử dụng 1kg lúa giống/sào với cùng giống lúa, chi phí phân bón cũng giảm đi 130-150 nghìn đồng/sào và đặc biệt gia đình không sử dụng các loại thuốc BVTV, các công việc làm cỏ hoàn toàn được làm thủ công, tuy có mất thời gian nhưng theo cô nói như vậy vừa là bảo vệ mình cũng là giữ gìn cho con cháu mình và điều quan trọng nhất là năng suất cho đã tăng lên 2.2-2.3 tạ/sào”.

Cô Lê Thị Nhàn – thôn Thanh Xuân 2, Xã Đồng Tiến cũng mới áp dụng theo phương pháp thâm canh mới, năng suất tăng từ 1.6-1.7 tạ/sào lên 2.1-2.2 tạ/sào. Cô chia sẻ: “Giờ ra ngoài đồng thấy không ai cấy to, cấy 5-6 nhánh, mọi người cứ học theo nhau, giờ nhà ai cũng làm cấy 1 nhánh hết, nhiều cũng chỉ là hai nhánh”.

Bà Tròn, xóm Vườn Rẫy, đã làm thí điểm với 3 giống lúa; bà cẩn thận đếm các hạt lúa thấy giống Qưu được 324 hạt/dé lúa, giống khang dân chỉ được có 282 hạt/ dé lúa, hạt ít lại nhỏ, không năng suât; giống lúa AS9 được 312 hạt/dé luá; qua thực tế bà thấy giống Qưu phù hợp với ruộng đất của gia đình nên bà sẽ tiếp tục trồng giống lúa này cho các vụ sau.

Mọi người rất cảm động khi thấy bác Nhượng nguyên là trạm trưởng trạm BVTV huyện Phổ Yên tuy ở rất xa cũng đến tham dự hội nghị và đóng góp một bài hát do bác sáng tác về cấy lúa SRI. Bác cho số điện thoại (0973743369) hẹn mời mọi người đến nhà vì còn nhiều sáng tác của bác về SRI.

Không chỉ tuyên truyền thâm canh theo phương pháp mới, trong hợp phần của dự án còn có hoạt động giới thiệu kỹ thuật kỹ thuật ủ phân vi sinh, xây 8 bể thu gom vỏ bao bì thuốc BVTV, tổ chức tổng vệ sinh môi trường nông thôn và tập huấn về biến đổi khí hậu…Bà con nhận thấy việc thu gom bao bì cho vào bể chứa đã làm cho đồng ruộng sạch sẽ hẳn lên, nhiều người đề nghị xây thêm bể thu gom bao bì thuốc BVTV theo phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm”.

Buổi hội thảo diễn ra trong không khí sôi nổi và vui vẻ, các thành viên trong nhóm nông dân nông cốt đã nhiệt tình chia sẻ những kinh nghiệm như trồng lúa tại các ruộng trũng có thể sử dụng mạ 5-6 lá, hoặc cho mạ đẻ nhánh rồi mới trồng, làm rãnh để thu gom ốc bươu vàng. Từ mô hình mở rộng 10ha này xã có kế hoạch tuyên truyền áp dụng SRI ra toàn xã.

(nguồn: CCDV)

 

Thành lập Câu lạc bộ nông dân nòng cốt tại xã Kim Lộc (tỉnh Hà Tĩnh)

Ngày 19-4-2012, Hội Nông dân xã Kim Lộc, huyện Can Lộc,  đã tổ chức thành lập Câu lạc bộ nông dân nòng cốt (CLBNDNC) mà thành viên là các nông dân nòng cốt được tập huấn trong Chương trình SRI.

Hội nông dân xã đã tích cực chuẩn bị cho hội nghị thành lập CLB. Anh Khoa – chủ tịch HND và anh Sơn – phó chủ tịch HND đã mời nông dân đến họp vào buổi tối để  tuyên truyền nông dân tự nguyện tham gia CLB. 10giờ tối họp xong, mọi người mời uống rượu vì rượu Kim Lộc có tiếng là ngon ở Hà Tĩnh.

27 nông dân nòng cốt đã tự nguyện tham gia CLB với mục tiêu học hỏi kỹ thuật sản xuất để làm tốt cho nhà mình và chuyển giao kinh nghiệm cho nông dân khác. Hôi nghị tổ chức vào lúc 2g chiều ngày 19-4 tại Trung tâm giáo dục cộng đồng của xã. Lúc đó nhiệt độ lên tới 37 độ. Nhưng nhờ có nước chè xanh nên giải nhiệt khá tốt. Tôi nhìn quanh chả thấy ai ra mồ hôi, còn mình thì áo ướt đẫm.

Tại đại hội, nhiều nông dân cho thấy họ có kinhnghiệm làm ăn tốt. Nhưng ít có cơ hội để tuyên truyền. Ông Mạnh là người làm lúa SRI vào loại giỏi trong xã, nhưng chỉ  làm cỏ trên 3 sào lúa, còn 4 sào khác vần dùng thuốc trừ  cỏ vì thiếu lao động. Ông cùng vợ làm cỏ bằng tay hay bằng cái nạo, mỗi ngày làm được 1 sào. Việc làm cỏ phải đúng vào ngày 15 sau khi cấy thì mới hiệu quả vì lúc đó cỏ mới mọc rễ non, nếu bị khua nước nổi lên thì cỏ sẽ không mọc được. Nếu để chậm thì không thể làm hết cỏ được. Ngày 30 sau khi cấy làm cỏ lần 2 là đủ. Do yêu cầu về thời gian như vậy nên ông không đủ lao động làm cỏ cả 7 sào. 4 sào khác ông phải phun thuốc trừ cỏ ngay sau khi cấy, tuy nhiên cây lúa vẫn bị ảnh hưởng nên lớn chậm. Nhiều nông dân trong xã vẫn gieo sạ vì ít cần thời  gian. Ông cho rằng gieo sạ thì cây lúa khỏe hơn cấy, nếu gieo thưa  (sạ máy)thì cây mạ vẫn khỏe và dễ làm cỏ. Ông Tố cấy lúa theo phương pháp SRI và khi mang 100kg gạo ra Hội chợ ở huyện Can Lộc bán, khi được hỏi SRI là gì thì ông đã giải thích cách làm và  sau đó bán được hết gạo với giá cao. Trong khi đó các nơi khác đem gạo đến ít bán được. Sau đó có nhiều người tìm đến mua gạo của ông.

CLB đã thảoluận quy chế hoạt động, đề xuất kế hoạch hoạt động và bầu ra Ban quản lý gồm 4 người. Lãnh đạo xã và Hội nông dân xã hy vọng CLB sẽ góp phần vào thực hiện 2/19 tiêu chí nông thôn mới là Nâng cao thu nhập và Bảo vệ môi trường  nông thôn.

Qua tìm hiểu tôi cũng biết thêm là xã Kim Lộc cách thị trấn Nghèn huyện Can Lộc khoảng 20km.  Kim Lộc là quê hương của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, người được vua Quang Trung (1753-1792) mời làm tư vấn về quản lý đất nước; và là nơi khởi phát của Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930. Xã Kim Lộc hiện nay đây là xã anh hùng , có 9 thôn, 3 HTX và 4,000 khẩu. Điều kiện trong xã  chỉ cấy được 2 vụ lúa, hàng năm đều chịu lũ lụt từ tháng 9 đến tháng 12 nên chăn nuôi rất khó khăn, thu nhập chủ yếu chỉ từ cây lúa, tỷ lệ nghèo vẫn khá cao – khoảng hơn 20%, hầu hết thanh niên đi làm ăn xa. Xã có tới 50 người có học vị tiến sỹ  và rất nhiều người có bằng đại học đang công tác tại các nơi.

 (Trung tâm Phát triển Cộng đồng Việt Hưng, 22-4-2012)