Thành lập Câu lạc bộ nông dân nòng cốt tại xã Kim Lộc (tỉnh Hà Tĩnh)

Ngày 19-4-2012, Hội Nông dân xã Kim Lộc, huyện Can Lộc,  đã tổ chức thành lập Câu lạc bộ nông dân nòng cốt (CLBNDNC) mà thành viên là các nông dân nòng cốt được tập huấn trong Chương trình SRI.

Hội nông dân xã đã tích cực chuẩn bị cho hội nghị thành lập CLB. Anh Khoa – chủ tịch HND và anh Sơn – phó chủ tịch HND đã mời nông dân đến họp vào buổi tối để  tuyên truyền nông dân tự nguyện tham gia CLB. 10giờ tối họp xong, mọi người mời uống rượu vì rượu Kim Lộc có tiếng là ngon ở Hà Tĩnh.

27 nông dân nòng cốt đã tự nguyện tham gia CLB với mục tiêu học hỏi kỹ thuật sản xuất để làm tốt cho nhà mình và chuyển giao kinh nghiệm cho nông dân khác. Hôi nghị tổ chức vào lúc 2g chiều ngày 19-4 tại Trung tâm giáo dục cộng đồng của xã. Lúc đó nhiệt độ lên tới 37 độ. Nhưng nhờ có nước chè xanh nên giải nhiệt khá tốt. Tôi nhìn quanh chả thấy ai ra mồ hôi, còn mình thì áo ướt đẫm.

Tại đại hội, nhiều nông dân cho thấy họ có kinhnghiệm làm ăn tốt. Nhưng ít có cơ hội để tuyên truyền. Ông Mạnh là người làm lúa SRI vào loại giỏi trong xã, nhưng chỉ  làm cỏ trên 3 sào lúa, còn 4 sào khác vần dùng thuốc trừ  cỏ vì thiếu lao động. Ông cùng vợ làm cỏ bằng tay hay bằng cái nạo, mỗi ngày làm được 1 sào. Việc làm cỏ phải đúng vào ngày 15 sau khi cấy thì mới hiệu quả vì lúc đó cỏ mới mọc rễ non, nếu bị khua nước nổi lên thì cỏ sẽ không mọc được. Nếu để chậm thì không thể làm hết cỏ được. Ngày 30 sau khi cấy làm cỏ lần 2 là đủ. Do yêu cầu về thời gian như vậy nên ông không đủ lao động làm cỏ cả 7 sào. 4 sào khác ông phải phun thuốc trừ cỏ ngay sau khi cấy, tuy nhiên cây lúa vẫn bị ảnh hưởng nên lớn chậm. Nhiều nông dân trong xã vẫn gieo sạ vì ít cần thời  gian. Ông cho rằng gieo sạ thì cây lúa khỏe hơn cấy, nếu gieo thưa  (sạ máy)thì cây mạ vẫn khỏe và dễ làm cỏ. Ông Tố cấy lúa theo phương pháp SRI và khi mang 100kg gạo ra Hội chợ ở huyện Can Lộc bán, khi được hỏi SRI là gì thì ông đã giải thích cách làm và  sau đó bán được hết gạo với giá cao. Trong khi đó các nơi khác đem gạo đến ít bán được. Sau đó có nhiều người tìm đến mua gạo của ông.

CLB đã thảoluận quy chế hoạt động, đề xuất kế hoạch hoạt động và bầu ra Ban quản lý gồm 4 người. Lãnh đạo xã và Hội nông dân xã hy vọng CLB sẽ góp phần vào thực hiện 2/19 tiêu chí nông thôn mới là Nâng cao thu nhập và Bảo vệ môi trường  nông thôn.

Qua tìm hiểu tôi cũng biết thêm là xã Kim Lộc cách thị trấn Nghèn huyện Can Lộc khoảng 20km.  Kim Lộc là quê hương của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, người được vua Quang Trung (1753-1792) mời làm tư vấn về quản lý đất nước; và là nơi khởi phát của Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930. Xã Kim Lộc hiện nay đây là xã anh hùng , có 9 thôn, 3 HTX và 4,000 khẩu. Điều kiện trong xã  chỉ cấy được 2 vụ lúa, hàng năm đều chịu lũ lụt từ tháng 9 đến tháng 12 nên chăn nuôi rất khó khăn, thu nhập chủ yếu chỉ từ cây lúa, tỷ lệ nghèo vẫn khá cao – khoảng hơn 20%, hầu hết thanh niên đi làm ăn xa. Xã có tới 50 người có học vị tiến sỹ  và rất nhiều người có bằng đại học đang công tác tại các nơi.

 (Trung tâm Phát triển Cộng đồng Việt Hưng, 22-4-2012)

 

Advertisements

Hướng tới một khu vực Châu Á – Thái Bình Dương không còn nạn đói

Hội nghị tham vấn tại Hà Nội
Hội nghị tham vấn tại Hà Nội

Bài của ông José Graziano da Silva; Tổng giám đốc Tổ chức Nông Lương (FAO) của Liên Hợp Quốc. 19 – 3 – 2012

Sự phát triển kinh tế tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong các thập kỷ vừa qua rất ấn tượng.   Báo cáo gần đây của Ngân hàng Thế giới đã trình bày về những tiến bộ ngoạn mục về giảm nghèo tại các khu vực trên thế giới. Năm 1981 có 77% dân số Châu Á sống trong tình trạng nghèo; con số này chỉ còn 14% vào năm 2008.

Tuy vậy tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương hiện nay vẫn là nơi có tới 2/3 tổng số người còn bị đói trên thế giới. 62% số người suy dinh dưỡng trên thế giới là ở khu vực này. Tỷ lệ này có nghĩa là còn có tới nửa tỷ người đang bị đói. Con số này là quá nhiều.

Từ nay tới năm 2050, khu vực này phái đối mặt với 3 thách thức lớn: (i) chấm dứt tình trạng có người đói và bản đảm quyền có lương thực cho mỗi người; (ii) nâng cao sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đô thị hóa nhanh chóng; và (iii) Đảm bảo phát triển bền vững về môi trường – kinh tế và xã hội.

Đây là những thách thức toàn cầu chứ không chỉ đối với người dân khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên những thác thức này có ý nghiã đặc biệt đối với Châu Á vì đây là khu vực có đông dân cư nhất, phần đông nông dân đều có ít ruộng đất và các diện tích đất có khả năng canh tác nông nghiệp hầu như đã được khai thác.

Như vậy sản lượng lương thực để nuôi sống thêm hơn 2 tỷ người tăng thêm từ nay đến giữa thế kỷ sẽ chủ yếu là từ tăng sản lượng của các nông dân nhỏ trên diện tích đất hiện có chứ không phải từ việc mở rộng đất canh tác. Việc tăng năng suất lương thực như vậy với các nguồn tài nguyên hạn chế lực và không được làm tổn hại tới hệ thống sinh thái đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới và bền vững.

Trong sản xuất gạo hiện nay, kỹ thuật Thâm canh lúa tổng hợp (Sustainable Rice Intensification – SRI) trong đó bao gồm cả việc rút nước và làm thông thoáng đất đã bắt đầu thay thế cho kỹ thuật trồng lúa truyền thống. Các nông dân nhỏ có thể tăng năng suất lúa thêm trên 1 tấn/ha, đồng thời giảm nhu cầu nước tưới, giảm sử dụng phân vô cơ và giảm phát thải khí nhà kính.

Mặc dù tăng sản xuất lương thực là vấn đề sống còn, nhưng chưa đủ.  Thế giới hiện nay hầu như có đủ lương thực, nhưng có tới 925 triệu người bị suy dinh dưỡng. Nguyên nhân chính là họ thiếu khả năng tiếp cận lương thực.  Vấn đề chủ yếu ở đây, xuất phát từ mỗi người là họ có đủ tiền để mua lương thực hay có đủ đất để trồng lương thực nuôi sống họ cùng gia đình. Nạn đói có thể là vân đề thách thức toàn cầu. Nhưng mỗi người dù ở trong nhà, ở làng quê hay ở thành phố đều cần lương thực.

Do vậy cần thổi một luồng sinh khí mới vào các cộng đồng nông thôn thông qua các hành động như: hỗ trợ các nông dân nhỏ để họ sản xuất nhiều hơn, ổn định hơn và có thị trường tiêu thụ nông sản; chương trình cải cách tiền công cho lao động nông nghiệp; tạo việc làm ở nông thôn; xây dựng mạng lưới an sinh xã hội để mọi người có đủ tiền cho con cái họ ăn và đi học. Các chính sách xã hội và chính sách sản xuất cần phải được liên kết với nhau nhằm xây dựng một hệ thống tương hỗ trong đó tại mỗi khu vực người sản xuất lương thực và người tiêu dùng lương thực có thể thỏa mãn lương thực cho nhau.

Một vấn đề khác cần lưu tâm trong cân đối lương thực toàn cầu và khu vực là tiêu dung lương thực. 1/2 dân số trên thế giới hiện nay hoặc là ăn chưa đủ no, hoặc là ăn kém, hoặc là ăn quá nhiều.

Ngoài  925 triệu người đói hiện nay trên thế giới, còn có trên 1 tỷ người thiếu vi chất, và 1 tỷ người khác thừa chất hay thừa cân. Ngoài ra có khoảng 1/3 lượng lương thực trên thế giới sản xuất ra dùng cho con người – khoảng 1,3 tỷ tấn – bị tổn thất hay đang bị sử dụng lãng phí.

Giảm lãng phí lương thực sẽ làm cho giá lương thực giảm xuống, giảm áp lực sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và giảm phát thải khí nhà kính. Đồng thời làm cho mỗi người sống khỏe hơn.

Việc phấn đấu để không còn người đói ở Châu Á và trên thế giới đòi hỏi cần có nỗ lực thảo luận chung trên toàn cầu – các cuộc thảo luận này đã đóng góp rất lớn cho Hội nghị khu vực Châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 31 của FAO vừa được tổ chức tại Hà Nội, với hơn 40 đoàn đài biểu từ các nước tham dự.

Sự hợp tác khu vực là vấn đề then chốt để giảm và chấm dứt không còn người đói; đặc biệt việc đẩy mạnh hợp tác Nam-Nam sẽ cho phép các nước đang phát triển học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau và kinh nghiệm của các nền kinh tế mới nổi.

FAO đã có 47 thỏa thuận hợp tác Nam-Nam tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, với hơn 1500 chuyên gia và các nhà kỹ thuật từ 13 quốc gia đang chia sẻ kinh nghiệm tại 35 nước. Các nước như Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Myanmar, Pakistan, Philippines và Việt Nam là một trong những nước đang hỗ trợ cho Hợp tác Nam-Nam.

Hợp tác cùng nhau như một phần của cộng đồng quốc tế, khu vực Châu Á-Thái Bình Dương có thể bảo đảm rằng sự phát triển kinh tế ngoạn mục trong khu vực sẽ góp phần đẩy nhanh tiến tới một khu vực không còn người đói.

(Ảnh của Hãng Reuters)

http://opinion.bdnews24.com/2012/03/19/towards-a-hunger-free-asia-and-pacific/#more-3273

(bản dịch tiếng Việt của Trung Tâm Phát triển Cộng đồng Việt Hưng – CCDV).

Hội nghị tham vấn tại Hà Nội
Hội nghị tham vấn tại Hà Nội

Hồi I. Đi Hà Tĩnh học tập chia sẻ SRI

Sáng 28-2-2012, Nhóm công tác của Chương trình FLAIR lên xe đi Hà Tĩnh dự hội thảo về chia sẻ kinh nghiệm chuyển giao SRI cho nông dân. FLAIR – có người phát âm là “phờ le” – chắc là mệt phờ, là Chương trình Chương trình nông nghiệp sáng tạo và thích ứng với biến đổi khí hậu (Farmer-led Agricultural Innovation for Resilience) do OA  khởi xướng. Cùng đi trên xe  có các đại diện từ Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, Hà Nội, Đại học Nông nghiệp, CCDV, Oxfam…nên rất vui.

Xe đi từ Hà Nội lúc 11 giờ sáng à đến 19 giờ tối mới tới nơi. Tuy đường xa,  nhưng mọi người được ngắm cảnh,  thưởng thức món thịt dê ở Ninh Bình và được chủ nhà Hà Tĩnh đón tiếp long trọng nên cả đoàn ai cũng vui và khỏe.

Tại hội thảo, có rất đông các đại biểu chủ nhà và có mấy chị em ở Hà Tĩnh lên đóng góp mấy tiết mục văn nghệ rất hay. Anh Kiếm – phó Chi cục trưởng Chi cục BVTV Hà Nội cũng hát một bài với giọng “đánh vần” làm mọi người cười nghiêng ngả.

Tại Hà Tĩnh hiện có 3 tổ chức chuyển giao SRI cho nông dân là Trung tâm Khuyến nông, Chi cục BVTV và Hội Nông dân do 3 tổ chức Oxfam (Quebec, Bỉ và Mỹ) hỗ trợ. Mỗi tổ chức triển khai tại các địa bàn khác nhau trong tỉnh và với các cách tiếp cận khác nhau. Và kết quả cũng khác nhau. Tuy nhiên mọi người đều thống nhất  SRI là phương pháp canh tác lúa có  hiệu quả hơn so với các phương pháp khác.

Tuy cùng hoạt động tại Hà Tĩnh, nhưng 3 đơn vị thực hiện hầu không chia kẻ kinh nghiệm hay có các hoạt động phối hợp với nhau. Do vậy các kinh nghiệm tốt ít được chuyển giao và tốc độ nhân rộng SRI rất chậm, Hiện nay mới chiếm 10% diện tích đất lúa trong tỉnh. Có đại biểu tính là với cách làm này thì phái mất 50 năm mới mở rộng SRI ra toàn tỉnh. Hiện nay không có đơn vị nào có các thông tin tổng hợp về thực hiện SRI tại Hà Tĩnh. Sở NN&PTNT có văn bản khuyến khích áp dụng SRI, nhưng thiếu các thông tin tổng hợp và cập nhật nên mức độ hỗ trợ mở rộng chưa cụ thể.

Hội thảo thấy rằng cần một cơ chế hoạt động mới nhằm nâng cao hiệu quả chuyển giao SRI tới các nông dân.Cơ chế này bao gồm hai vấn đề chính là thay đổi cách tiếp cận chuyển giao SRI (do nông dân làm, thực hiện tại cơ sở, thời gian dài hơn) và thỏa thuận phối hợp tốt hơn (thường xuyên chia sẻ kinh nghiệm, tiến độ và kết quả thực hiện, Chi cục BVTV tập huấn giảng viên cho TT Khuyến nông, TT khuyến nông chuyển giao cho các nhóm nông dân, Hội nông dân thành lập các Nhóm nông dân chuyển giao SRI cho nông dân tại các xã).

Mọi người ra về vui vẻ và bắt đầu một giai đoạn mới về tăng cường hợp tác chuyển giao SRI cho nông dân.  Sau Hội thảo, Chi cục BVTV Hà Tĩnh cùng CCDV và OA đã xuống ngày xã  Kim Lộc trao đổi về thí điểm các đề xuất của hội thảo.  Xin xem hồi sau sẽ rõ.

CCDV

Làm đất tối thiểu: Làm chơi ăn thật

Trồng khoai tây theo phương pháp làm đất tối thiểu là một đột phá trong nông nghiệp và cần triển khai càng nhanh càng tốt. Khi đưa vào sản xuất đại trà, phương pháp trên có thể giải quyết ba vấn đề lớn của nông nghiệp.

Làm đất tối thiểu: Làm chơi ăn thật

Củ khoai tây sáng bóng và ít dính đất – Nguồn ảnh: Internet

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hoàng Thanh Vân cho biết tại Hội nghị Sản xuất khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu giữa tháng 1 vừa qua.

Ba vấn đề ông Vân đề cập là giảm công lao động (làm đất, chăm sóc và thu hoạch), sử dụng hết nguồn rơm rạ sau thu hoạch để che phủ (thông thường rơm rạ thường được đốt gây ô nhiễm môi trường và tăng khí thải carbon vào không khí). Đồng thời giảm sự phát sinh gây hại của dịch bệnh, giảm chi phí sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

Theo bà Nguyễn Thị Hoa, Chi cục trưởng Chi Cục Bảo vệ thực vật Hà Nội, trồng khoai tây theo phương pháp làm đất tối thiểu tiết kiệm được công lao động từ 28 – 47%, tương đương với 4,2- 12,6 triệu đồng/ha. Trong đó chủ yếu giảm công làm đất và công thu hoạch. Năng suất cao hơn từ 8,27 đến 24,93%; tăng hiệu quả kinh tế cao hơn từ 10 đến 20 triệu đồng/ha.

Phương pháp mới do ông Ngô Tiến Dũng, Cục phó Cục Bảo vệ thực vật đề xuất thực hiện cách đây hơn ba năm. “Năm 2008, tôi sang Quảng Tây công tác được nghe kể việc nông dân Trung Quốc trồng khoai tây bằng rơm”, ông Dũng – người đồng thời cũng phát động trồng lúa cải tiến SRI cho biết: “Với sự trợ giúp từ Chương trình IPM – Rau của FAO và tổ chức Oxfam, từ 2008, Chương trình IPM Quốc gia – Cục Bảo vệ thực vật đã phối hợp với một số Chi cục Bảo vệ thực vật và bà con nông dân phát triển kỹ thuật trồng khoai tây mới này”.

Đến nay, phương pháp mới mẻ này đã được triển khai trên diện tích ruộng rộng 430 ha ở hơn 20 tỉnh thành phố (Hà Nội, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hải Phòng….). Trong đó, Hà Nội là 170 ha và Thái Bình là 130 ha.

“Nếu đưa vào sản xuất đại trà, diện tích khoai tây theo phương pháp làm đất tối thiểu có thể là 5.000 – 7.000 ha”, người đứng đầu ngành nông nghiệp Hà Nội cho biết. Hiện nay, diện tích trồng khoai tây trên cả nước khoảng 10.000 – 11.000 ha. Tuy nhiên, theo ước tính diện tích này mới chiếm khoảng 10% diện tích đất có thể trồng khoai tây.

Không còn chỗ chứa khoai

Khác với cách làm truyền thống, phương pháp làm đất tối thiểu không cần cày đất vun luống mà chỉ cần tạo rãnh thoát nước xung quanh ruộng, sau đó phủ rơm rạ lên. Người nông dân giảm bớt thời gian chăm sóc cho cây như tưới nước, bón phân chuồng và phân lân. Theo Chi cục bảo vệ thực vật Thái Bình – đơn vị có ba năm kinh nghiệm triển khai, trồng khai tây theo phương pháp mới giảm 192 ngày công/ha so với phương pháp truyền thống nhưng năng suất tăng cao hơn từ 9,77 -10,55%.

 

 “Trồng khoai tây theo phương pháp làm đất tối thiểu tiết kiệm được công lao động từ 28 – 47%, tương đương với 4,2- 12,6 triệu đồng/ha” – Bà Nguyễn Thị Hoa, Chi cục trưởng Chi Cục Bảo vệ thực vật Hà Nội.

Giảm ngày công là một ưu điểm quan trọng bởi hiện nay chi phí lao động khá cao, nhất là khâu làm đất, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh trong khi nguồn lao động ở nông thôn thuyên giảm do chuyển sang làm dịch vụ, đi lao động hay kinh doanh ngành nghề khác.

Một điểm đặc biệt là khoai tây – cây vụ đông mọc lên trong rơm rạ nên mẫu mã đẹp hơn, củ sáng bóng vì không dính nhiều đất và dễ thu hoạch. “Do củ khoai phát triển trong môi trường rơm rạ nên củ phát triển hơn trồng theo phương pháp cũ”, anh Nguyễn Mạnh Phương – Trạm trưởng Trạm bảo vệ thực vật Hà Đông cho biết. Hiện nay, trạm của anh Phương đang trồng 2ha theo phương pháp mới.

Do trồng theo phương pháp mới ít tốn công lao động nên những người cao tuổi cũng có thể tham gia. Bà Đắc Thị Lộc, 54 tuổi ở thôn Hoa Sơn, huyện Ứng Hòa, Hà Nội hiện đang trồng 8 luống khoai theo phương pháp làm đất tối thiểu. “Tôi thấy dễ làm nên năm sau sẽ mở rộng diện tích trồng ra 2 -3 sào” (1 sào Bắc Bộ = 360m2 – PV) , bà Lộc cho biết. “Nhà tôi hiện còn hai vợ chồng già làm nông, con cái ra thành phố làm hết.”

Bà con nông dân thu hoạch khoai tây trồng theo phương pháp mới. Ảnh: Ngô Tiến Dũng – Cục BVTV

Tuy nhiên, do dễ làm và hiệu quả kinh tế cao nên nhiều nông dân tỏ ra lo ngại về tính khả thi của phương pháp khi mới tiếp cận. Anh Trần Văn Hải, chủ nhiệm hợp tác xã Trần Đăng, thuộc xã Hoa Sơn, huyện Ứng Hòa, Hà Nội đã gặp sự phản đối của vợ khi quyết định trồng 4 sào khoai tây theo phương pháp mới. “Vợ tôi cằn nhằn và nói muốn dành thời gian làm tăm hơn là trồng khoai tây”, anh Hải vui vẻ nhớ lại: “Nhưng giờ cô ấy vẫn làm tăm và đang lo không biết tìm đâu chỗ để khoai tây”. Bốn sào ruộng của vợ chồng chủ nhiệm Trần Văn Hải thu hoạch được bốn tấn khoai tây, đây là năng suất khoai tây cao nhất (1 tấn/sào) mà anh Hải có được. Trong khi đó, láng giềng của anh trồng giống tương tự nhưng theo phương pháp cũ thì năng suất chỉ đạt 8 tạ/sào.

Bởi vậy, không có gì lạ khi phương pháp làm đất tối thiểu nhận được sự hưởng ứng của người nông dân ở 20 tỉnh thành mà còn nhận được sự đánh giá cao và ủng hộ của nhiều nhà lãnh đạo nông nghiệp. “Hiệu quả kinh tế tốt, đầu ra đảm bảo do nhu cầu trong nước cao và có thị trường để xuất khẩu”, ông Nguyễn Văn Vương, Phó phòng Cây lương thực, Cục Trồng trọt cho biết: Tôi đề xuất công nhận đây là tiến bộ kỹ thuật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận dụng chính sách nông nghiệp để mở rộng diện tích khoai tây. Tuy nhiên, trước mắt cần xây dựng qui trình để dễ áp dụng”.

“Không nghi ngờ gì nữa, phương pháp làm đất tối thiểu đã trở thành hiện thực trên đồng ruộng.” – Ông Nguyễn Xuân Hồng, Cục trưởng Cục bảo vệ thực vật nói. Ông Hồng cam kết: Cục sẽ nhanh chóng phối hợp với các chi cục, đặc biệt Hà Nội và Thái Bình – hai địa phương có diện tích trồng khoai tây theo phương pháp mới nhiều nhất, để làm thủ tục công nhận đây là tiến bộ kỹ thuật. “Chắc chắn sẽ được công nhận, vấn đề chỉ là thời gian”, người đứng đầu cơ quan phụ trách thuốc bảo vệ thực vật khẳng định.

Phương pháp mới mang lại hiệu quả kinh tế cao, giảm bớt công lao động nên chắc chắn là cơ hội tốt để các hộ nông dân tăng thu nhập. Bởi vậy, khi phương pháp trồng khoai tây làm đất tối thiểu được công nhận là tiến bộ kỹ thuật, những người dân nghèo và đặc biệt là phụ nữ cần được ưu tiên tiếp cận. “Khi Nhà nước có chính sách hỗ trợ các hộ dân trồng theo phương pháp làm đất tối thiểu thì cần chú trọng đến những hộ gia đình nghèo và phụ nữ là lao động chính”, Bà Lê Nguyệt Minh, trưởng đại diện Oxfam Mỹ tại Việt Nam – tổ chức hỗ trợ thực hiện thử nghiệm áp dụng phương pháp mới trên đồng ruộng cho biết.

Giảm khí thải carbon

 

 “Không nghi ngờ gì nữa, phương pháp làm đất tối thiểu đã trở thành hiện thực trên đồng ruộng.” – Ông Nguyễn Xuân Hồng, Cục trưởng Cục bảo vệ thực vật.

Phương pháp làm đất tối thiểu cũng được coi là góp phần giảm thiểu biến đổi khí hậu. Bởi phương pháp này tận dụng nguồn rơm rạ để che phủ khoai tây. “Thông thường 1kg rơm che phủ 1kg khoai tây”, ông Vân cho biết. Như vậy, diện tích khoai tây càng lớn thì lượng sử dụng rơm rạ càng nhiều và càng có ít rơm rạ bị đốt sau thu hoạch. Điều này góp phần làm giảm lượng phát thải khí nhà kính – một trong những nguyên nhân chính gây nên biến đổi khí hậu. Vì sao như vậy? Bởi ngày nay, người nông dân ít sử dụng rơm rạ làm phân hữu cơ hay chất đốt. Do đó, họ thường đốt trực tiếp trên đồng ruộng. Khí thải carbon sản sinh trong quá trình đốt bay thẳng vào khí quyển vừa gây ô nhiễm không khí vừa góp phần làm gia tăng biến đổi khí hậu.

Ngoài ra, rơm rạ còn là môi trường phát triển thuận lợi cho thiên địch – các sinh vật diệt trừ sâu bệnh. Nhờ đó, hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu. “Cây khỏe hơn, giảm tỉ lệ mắc những bệnh thông thường như héo xanh, sương mai hay sâu khoang”, anh Phương cho biết: “Thiên địch phát triển mạnh nên chúng tôi quản lý sâu bệnh dễ dàng hơn và giảm ngày công chăm sóc khoai tây”

Sau khi thu hoạch, thân, lá và rễ khoai tây cùng rơm rạ góp phần làm giàu cho đất, hạn chế phân bón hóa học. Theo Chi cục Bảo vệ thực vật Thái Bình, “nguồn tàn dư cây trồng dùng để phủ trên mặt luống khoai tây làm đất tối thiểu đã bổ sung một lượng mùn đáng kể, làm cho đất tơi xốp, thoáng khí, tiết kiệm được một phần phân bón hóa học.”

LỄ CHÀO MỪNG 1 TRIỆU NÔNG DÂN ÁP DỤNG SRI

Image

LỄ CHÀO MỪNG 1 TRIỆU NÔNG DÂN ÁP DỤNG HỆ THỐNG CANH TÁC LÚA CẢI TIẾN SRI VÀ NÔNG DÂN SÁNG TẠO

Canh tác lúa truyền thống với đặc trưng là sử dụng nhiều nước, giống mới, áp dụng nhiều phân hoá học và thuốc trừ sâu để đạt năng suất lúa cao nhưng cũng đã để lại những hậu quả là chi phí cao, hiệu quả sản xuất thấp, và gây ô nhiễm môi trường. Từ thực tế đó, một nền nông nghiệp sinh thái hướng tới hiệu quả cao, bền vững và ít làm tổn hại môi trường, hạn chế biến đổi khí hậu đã được hình thành và phát triển. Hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) được phát triển theo hướng này, đến nay đã được phát triển và áp dụng trên 20 nước. SRI thoả mãn được cả hai mục tiêu là hiệu quả kinh tế cao và nền nông nghiệp bền vững. SRI khắc phục những nhược điểm của canh tác lúa truyền thống như cấy mạ già, cấy dầy, to khóm, giữ nước liên tục, lạm dụng phân hoá học và thuốc trừ sâu đã làm ức chế tiềm năng di truyền lúa, bằng việc cấy mạ non, cấy thưa, làm cỏ sục bùn, sử dụng phân và điều tiết nước hợp lý đã điều kiện cho tiềm năng di truyền của lúa được phát huy và qua đó thúc đẩy sinh trưởng và phát triển để tạo năng suất cao. Thông qua việc áp dụng SRI năng suất lúa tăng lên, chi phí đầu vào giảm, chất lượng lúa gạo tăng đã làm tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân. Đồng thời kiến thức và năng lực của họ cũng được tăng cường, kết cấu cộng đồng được vững chắc, môi trường được bảo vệ và góp phần giảm thiểu biến đổi khí hậu.

SRI cũng đã được nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam từ năm 2004, đến nay đã có gần 200 ngàn ha được áp dụng và đã có trên 1 triệu nông dân tham gia.

Để đánh dấu sự kiện đặc biệt này, ngày18 tháng 10 năm 2011, tại Trung tâm hợp tác quốc tế – Đại học Thái Nguyên, Cục Bảo vệ Thực vật – Bộ Nông nghiệp và PTNT, Chi cục bảo vệ thực vật Thái Nguyên, Trường Đại học Nông Nghiệp Hà nội, Đại học Thái Nguyên, Trung tâm phát triển cộng đồng Việt Hưng và Tổ chức Oxfam Mỹ đã phối hợp tổ chức “Lễ chào mừng 1 triệu nông dân Việt Nam áp dụng Hệ thống canh lúa cải tiến – SRI và Hội thi nông dân làm SRI giỏi”.

Tới dự buổi Lễ có Nguyễn Duy Lượng, Phó chủ tịch Trung ương Hội nông dân Việt Nam, ông Nguyễn Xuân Hồng, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật, cùng nhiều lãnh đạo UNND tỉnh Thái Nguyên, Sở nông nghiệp & PTNT Thái Nguyên, lãnh đạo Đại học Thái Nguyên, đại diện chi cục BVTV và nông dân của 6 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Nội, Thái Nguyên, Yên bái, Vĩnh Phúc, lãnh đạo các ban ngành của tỉnh Thái Nguyên, các tổ chức quốc tế trong và ngoài nước, và các cơ quan phát thanh, truyền hình, báo chí trung ương và địa phương cũng đến dự và đưa tin.

Buổi lễ được diễn ra long trọng. Đây là cơ hội gặp gỡ giao lưu giữa nông dân làm SRI của 6 tỉnh đại diện cho hơn 1 triệu nông đang áp dụng SRI trong cả nước. Đồng thời cũng là cơ hội cho các nhà khoa học, các nhà lập chính sách có dịp giao lưu với nông dân làm SRI.Tại buổi Lễ, bà Lê Nguyệt Minh, Đại diện trưởng Oxfam Mỹ tại Việt Nam (Tổ chức tài trợ cho Chương trình nông nghiệp sáng tạo và thích ứng với biến đổi khí hậu của tổ chức Oxfam Mỹ) cho biết: “Sự hợp tác của Oxfam với Cục Bảo vệ thực vật và các đối tác Việt Nam đang giúp cho các hộ nông dân quy mô nhỏ – mà phần đông là nông dân nghèo – nâng cao đóng góp của họ vào ngành sản xuất lúa gạo. Thực tế đã chứng minh là các kỹ thuật mang tính sáng tạo này cho phép cả những nông dân nghèo nhất và có ít ruộng đất nhất cũng có thể tăng được năng suất lúa”. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tới vụ hè thu năm 2011, đã có hơn 1 triệu nông dân – gần 70% trong số họ là phụ nữ, tại 22 tỉnh ở miền Bắc Việt Nam đã tiếp cận và ứng dụng SRI. Số nông dân ở Việt Nam áp dụng SRI hiện nay tăng gấp 3 lần so với năm 2009 và chiếm 10% tổng số nông dân trồng lúa ở Việt Nam. 

Theo ông Ngô Tiến Dũng – Phó cục trưởng Cục Bảo vệ Thực vật – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Các hộ nông dân quy mô nhỏ đã đạt được thành công lớn vì họ là những người đi đầu trong đổi mới sáng tạo SRI. Chúng ta cần thúc đẩy dịch vụ chuyển giao SRI trong các năm tới. Đây là một hệ thống kỹ thuật đầu tư nhỏ cần thiết để giúp nông dân thoát nghèo và tăng trưởng nhanh nền kinh tế”.

Sau buổi lễ chào mừng 1 triệu nông dân áp dụng SRI là Hội thi nông dân làm SRI. Hội thi đã được nông dân của các huyện: Phú Lương, Phú Bình, Định Hóa, Phổ Yên, Đại Từ…tỉnh Thái Nguyên hưởng ứng tham gia nhiệt tình.

Qua buổi Lễ một lần nữa khẳng định hiệu quả của SRI, được chứng minh bằng số lượng hộ tham gia áp dụng SRI ngày càng tăng. Tổ chức Oxfam Mỹ khuyến cáo đến năm 2025 tất cả các nước sản xuất lúa gạo chính trên thế giới cần có ít nhất 25% diện tích đất canh tác lúa nước ứng dụng SRI.

Một số hình ảnh hoạt động của buổi lễ :

Image

      Ảnh 2: Các đại biểu về tham gia buổi lễ chào mừng 1 triệu nông dân thâm canh lúa SRI

Image

Ảnh 3: Một số gian hàng trưng bày các sản phẩm SRI

Image

Ảnh 4: Đồng chí Nguyễn Duy Lượng, Phó chủ tịch Trung ương Hội nông dân Việt Nam phát biểu tại buổi lễ

 Image

 Ảnh 5: Các đội tham dự hội thi “Nông dân làm SRI giỏi

    Image

Ảnh 6: Một tiết mục biểu diễn tham dự hội thi

ICC-TNU

 

  

Cuộc thi sáng tác tặng phẩm SRI

Thi Thiết kế tặng phẩm cho chương trình SRI

Qua hơn 3 năm thực hiện chương trình “Tăng cường năng lực cho nông dân trồng lúa quy mô nhỏ tại các tỉnh miền Bắc” ứng dụng Hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) do Oxfam Mỹ tài trợ, tới năm 2011 đã có khoảng 1 triệu nông dân áp dụng SRI.

Để hưởng ứng sự kiện này, Trung tâm Phát triển Cộng đồng Việt Hưng thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam phát động cuộc thi Thiết kế tặng phẩm cho chương trình SRI.

Những yêu cầu áp dụng cho cuộc thi:

1. Logo và Slogan:

Sử dụng logo và slogan có sẵn của chương trình.

2. Yêu cầu thiết kế tặng phẩm cho chương trình SRI

–         Thiết kế trên chất liệu thân thiện với môi trường, có thể sử dụng lâu dài, thường xuyên (3-5 năm). 1 điểm
–         Có in hình logo và slogan của chương trình dễ nhìn, dễ thấy. 1 điểm
–         Mọi người sử dụng thường xuyên và  thấy được tiện ích khi sử dụng tặng phẩm này phục vụ cho phát triển trồng lúa. 6 điểm
–         Có mức giá không quá  100.000đ/sản phẩm khi sản xuất 2 điểm

3. Hình thức tặng phẩm:

Là các vật dụng được sử dụng thường xuyên

4. Người hưởng lợi từ tặng phẩm:

–   Các nông dân trồng lúa

–   Cán bộ các đoàn thể xã hội tại thôn, xã

–   Cán bộ ngành bảo vệ thực vật các cấp

–   Các nhà quản lý, hoạch định chính sách nông nghiệp

5. Người dự thi:

–         Là một người hay một nhóm người, gọi chung la người dự thi

–         Mỗi người thể gửi một hay nhiều mẫu thiết kế khác nhau

–         Có thể tham khảo thêm thông tin về Chương trình SRI trên trang website http://vietnamsri.wordpress.com

Giải thưởng của chương trình: 01 giải Nhất trị giá 5.000.000 VNĐ (Năm triệu đồng chẵn).

Bài dự thi xin gửi về địa chỉ

Phòng 306, KS Newtatco, 28 phố Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội

Tel: (84 – 4) 730 730 69; Fax: (84 – 4) 37622258

Email:  le.nguyet.09@gmail.com; nguyentmnew@gmail.com;

Chương trình có toàn quyền sử dụng tác phẩm của người dự thi.

Thời gian nhận bài thi: từ ngày 1/3/2011 đến 30/3/2011.

Ngày công bố Giải thưởng: 15/4/201 trên website http://vietnamsri.wordpress.com

Đơn giản mà hiệu quả

Trời mưa nặng hạt hơn. Chắc đêm nay gió lạnh sẽ về.Tôi kéo chiếc mũ xuống che kính và bấm chân trên đám cỏ gừng lòe xòe để tránh “vồ ếch”. Tôi tăng tốc bắt kịp ông Thiều, chi cục trưởng chi cục BVTV Nghệ An ở sát mép khu ruộng thí nghiệm trồng lạc vụ đông trên đất 2 lúa. Không chỉ tôi mà cả nhóm công tác trầm trồ “lạc đẹp quá”. Lạc được lên luống và phủ ni-lon ở gốc để giữ ẩm. Đánh luống giúp thoát nước nhanh, không làm úng cây. Cây lạc xòe nhánh mập mạp, lá xanh mịn. Anh Tâm, cán bộ chi cục BVTV, đồng thời là điếu phối viên phụ trách dự án Oxfam tâm sự “so sánh tốc độ ra lá và phân cánh thì của ta sớm hơn chính vụ”.

Bác Huệ, nông dân trực tiếp tham gia mô hình lạc, vừa sải bước tới gần chỗ chúng tôi đứng vừa nói “Ban đầu ai cũng lo, đất lúa ướt thì lạc dễ chết ẻo. Mấy ngày mưa lũ đầu tháng 10 vừa rồi cả xóm bồn chồn”. Một cây lạc được nhổ lên. Bộ rễ xòe tròn, 6-7 củ căng mẩy”. Bác Huệ tiếp lời “lượng củ thế này chắc phải thu gần bằng chính vụ. Nếu bán làm lạc giống cho vụ tới, được giá gấp đôi,có khi gần gấp ba”.

Theo chân bác Huệ và bác Tâm, chủ nhiệm hợp tác xã Tây Phú nơi tổ chức làm mô hình lạc làm đất tối thiểu trên đất lúa 2 vụ. Chúng tôi tới trụ sở của HTX. Vạch vôi hơi mờ, chỗ còn chỗ mất, tấm lưới giăng ngang sẵn sàng cho biết sân trước trụ sở chắc hẳn là sân bóng chuyền sôi động. Tiếng cười nói xôn xao. Toàn bộ 30 học viên của lớp học đồng ruộng mô hình lạc đang trao đổi.

Trà xanh gừng được rót ra và truyền tay tới mọi người. Hương trà làm ấm nóng thêm bầu không khí cuộc họp. Mấy chị nông dân mạnh dạn chia xẻ. Kiểu làm đất “tối thiểu” cứ như làm chơi “chỉ đánh luống rồi xỏa đất sơ sơ là xong”. Tiết kiệm 3 -4 công làm đất cho một sào. “Nếu chuột không bới đất ăn củ thì chắc là thắng cô ạ” – Một chi ngồi gần tôi tâm sự Nhóm nông dân sôi nổi bàn bạc kế hoạch tới đây sẽ mở rộng diện tích thay thế cây ngô vụ đông vì trồng ngô hại đất lúa vụ sau, chi phí cao mà giá bấp bênh. Trồng lạc “tối thiếu” thế này “đơn giản mà hiệu quả. Chất đất cũng được cải thiện cho vụ lúa sau. Tôi vẫn băn khoăn tăng diện tích trồng lạc, liệu có rơi vào cái bẫy cung thừa kéo giá xuống. Mấy chị nông dân trấn an liền “lạc bán ngay trong xã, trong huyện còn thiếu. Mà nếu dư thừa thì bán cho Hà Tĩnh láng giếng làm kẹo cu-đơ”.

Các bác, các chị hẹn chúng tôi đến Tết ông Táo thì về thu hoạch lạc. Ra đến cửa, các chị còn nói với theo “lần sau về lâu lâu hơn để giao lưu một séc bóng chuyền nhé”. Niềm vui của các bà, các chị nông dân ở HTX Tây Phú theo bước chúng tôi. Dọc dường về anh Tâm cho biết thôn 9 nơi chúng tôi vừa đến là một trong những thôn nghèo nhất ở Nghê An, gần 87% hộ nghèo. Được tiếp cận tiến bộ khoa học và thành công như vậy ai cũng vui. Tôi thầm nghĩ không vui, không tự hào sao được khi họ chính là nhũng nông dân đầu tiên ở Nghệ An thử nghiệm trồng lạc trên đất lúa 2 vụ.

 

Ghi nhận trong chuyến đi xã Diễn Phú, Nghệ An, 24/10/2010 Lê Minh, Oxfam America